Nhân ngày chị bạn chia sẻ thông tin về chữ “courage” – rằng dũng cảm vốn đi từ trái tim, tổ tiên của từ “courage” là “trái tim”, chợt nghĩ về từ “dũng cảm” trong Tiếng Việt.
“Tổ tiên của từ courage là từ Cor trong tiếng La Tinh, có nghĩa là trái tim. Tiến hóa thành từ Corage trong tiếng Pháp Cổ, nghĩa vẫn như trên, nhưng bổ sung thêm nghĩa ‘nóng nảy’ và ‘nội tâm’. Sau đó, vào năm 1300, từ corage được sử dụng mang nghĩa trái tim (nơi ngự trị của những cảm xúc sâu kín), tâm hồn, khí chất. Cuối cùng, chúng ta có tiếng Anh và tiếng Pháp ngày nay.”
Mình chợt nhận ra, rằng chữ “dũng cảm” của Việt Nam tự nó cũng đủ đầy ý nghĩa y như thế.
“Dũng”: Sức mạnh thể chất và tinh thần, trên hẳn mức bình thường, dám đương đầu với việc khó khăn, nguy hiểm để làm những việc nên làm.
Bản thân chữ “dũng” đứng một mình chưa đủ hay. Tiếng Việt có thêm chữ “cảm” – nghĩa là nhận biết bằng giác quan, làm rung động trong lòng. VD như “cảm xúc”, “cảm động”, “nhạy cảm”… Mọi cái “cảm” đều đi từ trái tim mà ra cả.
“Dũng cảm” vì thế mà mềm mại hơn nhưng cũng mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Bởi cái “dũng” ấy đi từ trái tim, biết “cảm”, biết “rung động”, tràn đầy và trọn vẹn. Nếu “dũng” là dương thì “cảm” là âm. “Dũng” là hỏa còn “cảm” là thủy (bị cảm cúm thường sẽ sổ mũi hắt xì, do dư nước). “Dũng cảm” chính là trạng thái cân bằng âm dương, cân bằng hỏa thủy.
Tiếng Việt là thứ tiếng minh triết, càng học càng yêu, càng học càng thấy mình chẳng hiểu gì cả.
